Hướng dẫn bổ sung các chất dinh dưỡng cần thiết trong suốt thai kỳ và cho con bú


Trở thành người mẹ và bắt đầu có một gia đình mới, là hy vọng và ước mơ trọn vẹn của nhiều phụ nữ. Làm mẹ khiến cuộc sống của bạn tràn ngập tình yêu, tiếng cười và niềm vui. Nếu đây là lần đầu tiên làm mẹ, bạn có thể đang đọc rất nhiều thông tin để chuẩn bị cho những thay đổi sắp tới. Có rất nhiều kiến thức phải biết như những gì bạn nên làm, những gì bạn không nên làm. Không kể, gia đình và bạn bè của bạn cũng sẽ chia sẻ những kiến thức của họ cho bạn. Sự phong phú về thông tin có thể khiến bạn bị bối rối ở vì mọi thứ dường như trở nên quan trọng. Tuy nhiên, bạn cần nhớ rằng ưu tiên hàng đầu của bạn luôn là sức khỏe của bạn, sức khỏe của bé và dinh dưỡng là chìa khóa để chăm sóc sức khoẻ của bạn và bé.


Tầm quan trọng của dinh dưỡng trong thai kỳ và cho con bú

Khi bạn chuẩn bị làm mẹ, bản năng người mẹ muốn cho con của mình sự khởi đầu tốt nhất và khỏe mạnh. Bạn có thể làm điều này bằng cách đảm bảo rằng bạn nhận được lượng dinh dưỡng trong chế độ ăn theo khuyến cáo (recommended dietary intake-RDI) trong thời gian mang thai và cho con bú.
Đảm bảo đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển và tăng trưởng tối ưu của thai nhi và trẻ nhỏ. Thai nhi của bạn phụ thuộc vào nguồn cung cấp chất dinh dưỡng của mẹ và chỉ có thể phát triển bình thường và tối ưu nếu nguồn cung cấp đầy đủ. Dinh dưỡng cũng rất quan trọng đối với sức khoẻ của người mẹ nhằm đáp ứng nhu cầu cơ thể và những thay đổi trong thai kỳ.

Dinh dưỡng và mang thai

Trong thai kỳ, bào thai của bạn trải qua sự tăng trưởng và phát triển rõ rệt và nhanh chóng (Hình 1). Để đảm bảo cho sự hình thành và phát triển khỏe mạnh của thai nhi, chúng ta cần đảm bảo đáp ứng nhiều loại dưỡng chất khác nhau trong thai kỳ.

  • Trong tam cá nguyệt đầu tiên, em bé chỉ là một phôi thai nhỏ phát triển thành bào thai. Hình dạng khuôn mặt đã hình thành và mọi cơ quan (ví dụ như não, tim) đều xuất hiện và bắt đầu hoạt động. Dầu cá là một chất dinh dưỡng quan trọng cho não, mắt và sự phát triển thần kinh của bé. Nguồn cung cấp máu của bạn sẽ tăng trong suốt thai kỳ để hỗ trợ cho bé phát triển, do đó cơ thể bạn sẽ có nhu cầu sắt cao hơn. Ngoài ra axít folic, axít folinic, các loại khoáng chất (canxi, iốt, phốt pho, magiê, kẽm), các loại vitamin C, D và E, beta-carotene, và các vitamin nhóm B bao gồm vitamin B1, B2, B3, B5, B6 và B12 cũng rất cần thiết cho người mẹ và thi nhi [1].
  • Trong tam cá nguyệt thứ hai, cơ bắp của bé phát triển hơn, và bạn có thể bắt đầu cảm thấy sức mạnh trong những cú đá nhỏ của bé. Magnesium là một khoáng chất quan trọng cho sự phát triển và chức năng cơ bắp của bé cùng với các dưỡng chất khác như omega-3, sắt, canxi, iốt, phốt pho, kẽm, các vitamin C,D,E và các vitamin B1, B2, B3, B5, B6, B12 và beta-carotene [1].
  • Trong tam cá nguyệt thứ ba, em bé tiếp tục phát triển và xương chắc khỏe hơn. Canxi, phốt pho, vitamin D là các chất dinh dưỡng quan trọng cho sự phát triển và sức khỏe xương của bé. Các thành phần khác như omega-3, sắt, iốt, kẽm, các vitamin C, E và các vitamin B1, B2, B3, B5, B6, B12 và beta-carotene tiếp tục đóng vai trò quan trọng vào nhiều quá trinh sinh lý cơ thể khác nhau ở người mẹ và sự phát triển của thai nhi [1].
Hình 1. Sự phát triển của bé trong suốt thai kỳ

Hình 1. Sự phát triển của bé trong suốt thai kỳ

Dinh dưỡng và cho con bú

Nuôi con bằng cách cho bú trực tiếp là cách tốt nhất để cung cấp cho trẻ sơ sinh những dưỡng chất thiết yếu cần cho sự phát triển tối ưu về thể chất và tinh thần. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và UNICEF rất khuyến khích việc cho con bú sữa mẹ vì nhiều lợi ích sức khoẻ kéo dài đến tuổi trưởng thành (ví dụ như sự phát triển về nhận thức và miễn dịch). Bạn cần đảm bảo nguồn cung cấp sữa của bạn là tối ưu (nghĩa là giàu chất dinh dưỡng) để hỗ trợ sự phát triển và tăng trưởng của bé. Có nhiều phương pháp thay thế cho việc cho con bú sữa mẹ, chẳng hạn như các công thức cho trẻ sơ sinh, tuy nhiên, lợi ích từ sữa mẹ lớn hơn các phương pháp thay thế này. Cho con bú bằng sữa mẹ nên được xem như là lựa chọn đầu tiên cho việc nuôi trẻ.

Thiếu dinh dưỡng trong thai kỳ và thời kỳ cho con bú

Tầm quan trọng của dinh dưỡng đối với sự tăng trưởng và phát triển của bé có thể thấy ở trẻ sơ sinh bị thiếu chất dinh dưỡng trong thời gian mang thai và cho con bú. Sự tăng trưởng và phát triển của đứa trẻ bị ảnh hưởng tiêu cực, dẫn đến các hậu quả như phát triển còi cọc, suy giảm chức năng nhận thức hoặc dị tật bẩm sinh như dị tật nứt đốt sống.
Để làm nổi bật tầm quan trọng của các chất dinh dưỡng khác nhau và vai trò của nó trong sự phát triển và sức khoẻ của bé, dưới đây là hướng dẫn về các chất dinh dưỡng thiết yếu bạn cần trong thai kỳ và cho con bú:

Các axít béo omega-3

Các axít béo omega-3 là các dưỡng chất có vai trò đặc biệt quan trọng trong thai kỳ và thời kỳ cho con bú, cần thiết cho sự phát triển tối ưu của thai nhi, trẻ sơ sinh và sức khoẻ của người mẹ. Trong thai kỳ, nhu cầu axít béo omega-3 của bạn tăng lên để hỗ trợ sự phát triển của thai nhi. Ngoài ra, cơ thể bạn cũng cần axít béo omega-3 mỗi ngày để tăng trưởng, phát triển, xây dựng và sửa chữa.

Dầu cá là một nguồn axít béo omega-3 thiết yếu, đặc biệt là axít eicosapentaenoic (EPA) và axít docosahexaenoic (DHA). DHA và EPA có nhiều lợi ích sức khoẻ bao gồm phát triển và hoàn thiện chức năng não bộ, mắt, tim và miễn dịch. Cơ thể của bạn không thể tổng hợp axít béo omega-3, do đó cần phải bổ sung thông qua chế độ ăn uống một cách thường xuyên.
Axít béo omega-3 là quan trọng cho sự phát triển và chức năng tối ưu của não bộ, hệ thần kinh và võng mạc của bé trong suốt thai kỳ và sau khi sinh. Nghiên cứu lâm sàng cho thấy lượng DHA và EPA của người mẹ trong giai đoạn mang thai và cho con bú giúp cải thiện đáng kể kỹ năng nhận thức (như chỉ số IQ, kỹ năng xử lý thông tin, học tập, hành vi, khả năng tập trung, trí tuệ, sự chú ý và giải quyết vấn đề) và thị giác của trẻ [3-7].

Trong thời kỳ mang thai và cho con bú, lượng DHA thai nhi và trẻ nhỏ nhận được hằng ngày được xác định bởi chế độ ăn của người mẹ. Trong khi ở bụng mẹ, bào thai tích lũy DHA có nguồn gốc từ nhau thai chuyển vào [2]. Trong nửa sau của thai kỳ, khẩu phần axít béo omega-3 của bạn rất quan trọng vì sự phát triển trí não của bé sẽ tăng lên. Bộ não của trẻ tiếp tục phát triển sau khi sinh cho tới những năm tiếp theo của cuộc đời.

Mức axít béo omega-3 của mẹ không đủ sẽ gây trở ngại cho sự phát triển của bé và nó sẽ ảnh hưởng đến tuổi thành niên. Hậu quả bao gồm sự phát triển trí não bị rối loạn chức năng, tăng trưởng kém, và tăng nguy cơ mắc chứng rối loạn dạng tự kỷ [8].

Hiện nay có nhiều sản phẩm bổ sung dầu cá trên thị trường nhưng chúng chứa các nguồn cá và tỷ lệ DHA: EPA khác nhau. Dầu cá ngừ tự nhiên có tỷ lệ DHA / EPA cao nhất (4,33: 1 hay 26 DHA: 6 EPA) trong các loài cá được đánh bắt thương mại. Một nghiên cứu về thành phần sữa mẹ ở 9 quốc gia cho thấy tỷ lệ DHA: EPA trong dầu cá ngừ tự nhiên gần giống với sữa mẹ hơn các axít béo tự nhiên khác [9].

Nghiên cứu lâm sàng cho thấy bổ sung omega-3 trong thai kỳ làm giảm nguy cơ tiền sản giật, sinh non hoặc thiếu cân khi sinh [10].

Nguồn cá (và nguy cơ nhiễm thuỷ ngân) so với các sản phẩm bổ sung dầu cá
Bạn có thể bổ sung axít béo omega-3 từ dầu cá (ví dụ cá hồi và cá ngừ) hoặc các chế phẩm bổ sung dầu cá. Phụ nữ mang thai và cho con bú cần phải cẩn thận khi ăn cá vì nguy cơ cá bị phơi nhiễm thuỷ ngân sẽ ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của hệ thần kinh và não bộ của bé như làm chậm khả năng biết đi và nói của trẻ [1]. Các sản phẩm bổ sung dầu cá được sản xuất tại Úc phù hợp với tiêu chuẩn Thực hành tốt sản xuất (GMP) đã được làm tinh khiết, không còn thủy ngân và do đó là sự lựa chọn an toàn hơn cho phụ nữ mang thai và đang cho con bú để đáp ứng được nhu cầu axít béo omega-3.

Axít folic

Axít folic, còn gọi là vitamin B9, rất cần thiết cho sự phát triển khỏe mạnh của bé, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của thai kỳ [11]. Trong những tuần đầu tiên của thai kỳ (thường là giai đoạn trước khi hầu hết phụ nữ biết mình đang mang thai), em bé trải qua sự tăng trưởng nhanh. Axít folic là cần thiết cho sự hình thành và đóng ống thần kinh của bé, xảy ra trong 4-6 tuần đầu của thai kỳ [12]. Nếu ống thần kinh không đóng kín sẽ dẫn đến các khiếm khuyết ống thần kinh như nứt đốt sống. Tật nứt đốt sống là một tình trạng nghiêm trọng có thể gây ra nhiều khuyết tật cho em bé, bao gồm liệt chân, mất kiểm soát bàng quang và đường ruột [12, 13].

Để giúp ngăn ngừa các khiếm khuyết của ống thần kinh, bạn nên uống ít nhất 400mcg folic axítmỗi ngày trước khi thụ thai và trong ba tháng đầu của thai kỳ. Cách tốt nhất để đảm bảo bạn đang nhận đủ axítfolic là thông qua chế phẩm bổ sung, bởi vì rất khó để đo chính xác được lượng axítfolic trong chế độ ăn của của bạn. Các sản phẩm bổ sung hoặc các công thức cho bà bầu có liều lượng folic axítkhác nhau, bạn cần phải kiểm tra xem liều lượng có chứa ít nhất 400mcg/ngày hay không để giúp ngăn ngừa khuyết tật ống thần kinh.

Axít folic cũng tham gia vào việc hình thành các tế bào hồng cầu, sự phát triển hệ thần kinh của thai nhi, sự tổng hợp DNA và sự phát triển của tế bào [14]. Thiếu axítfolic có thể dẫn đến thiếu cân, mệt mỏi, suy nhược, thiếu máu do thiếu folat (thiếu hụt các tế bào hồng cầu khỏe mạnh), và tăng nguy cơ dị tật ống thần kinh (ví dụ: nứt đốt sống) cho em bé.

Axít folic và Axít folinic

Axít folinic thường được gọi là axít folic “đã hoạt hóa”, có cấu trúc hóa học tương tự axít folic (hình 2)) nhưng có các nhánh phụ khác gắn với cấu trúc pteridin.

Hình 2. So sánh giữa cấu trúc hóa học của axít folic và axít folinic. Chúng có sự khác biệt trong cấu trúc pteridine (phần khung đỏ) [16].

Hình 2. So sánh giữa cấu trúc hóa học của axít folic và axít folinic. Chúng có sự khác biệt trong cấu trúc pteridine (phần khung đỏ) [16].

Axít folic có hoạt tính sinh học sau khi cơ thể chuyển đổi nó thành dạng sinh học của folate, chẳng hạn như 5-methyltetrahydrofolate (là dạng folate chính lưu hành trong cơ thể) [15]. Trong quá trình này, axít folic được chuyển hóa qua một số bước enzyme để tạo ra 5-methyltetrahydrofolate (Hình 3). Tuy nhiên, axít folinic có mặt dưới dạng khử của axítfolic, do đó nó bỏ qua các bước trong quá trình chuyển hóa axít folic để tạo ra 5-methyltetrahydrofolate (Hình 3). Điều này có lợi vì axítfolinic có thể làm tăng nồng độ folate trong huyết tương nhanh hơn axítfolic.

Hình 3. Sự so sánh giữa các con đường chuyển hóa của axít folic và axít folinic, để tạo ra dạng folate sinh học 5-methyltetrahydrofolate [16].

Hình 3. Sự so sánh giữa các con đường chuyển hóa của axít folic và axít folinic, để tạo ra dạng folate sinh học 5-methyltetrahydrofolate [16].

Sắt

Sắt là một khoáng chất đặc biệt quan trọng đối với phụ nữ mang thai. Trong thai kỳ, nhu cầu sắt tăng lên đáng kể khi lượng máu mẹ tăng lên để nuôi dưỡng em bé và hỗ trợ hệ máu đang phát triển của trẻ [18]. Lượng ăn vào khuyến nghị (RDI) cho phụ nữ mang thai là 27mg sắt/ngày (cao hơn 9mg / ngày so với phụ nữ không mang thai).

Sắt là thành phần quan trọng của hemoglobin, một protein vận chuyển oxy trong hồng cầu. Gần hai phần ba sắt của cơ thể được tìm thấy trong hemoglobin [17]. Tủy xương cần sắt để sản xuất hemoglobin cho các tế bào hồng cầu [18].

Nếu lượng sắt của bạn không đủ thì có thể dẫn đến nồng độ hemoglobin thấp, điều này ngăn ngừa hồng cầu vận chuyển oxy trong máu một cách hiệu quả. Thiếu sắt có thể dẫn đến mệt mỏi, suy giảm miễn dịch hoặc thiếu máu (thiếu hụt về số lượng và chất lượng hồng cầu) [18]. Sắt thiếu trong thời gian mang thai làm tăng nguy cơ đẻ non hoặc trẻ nhẹ cân, điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ của bé [8].

Sắt cũng cần thiết cho myoglobin (một protein mang oxy trong tế bào cơ), các enzym tham gia sản xuất năng lượng và chức năng miễn dịch.

Các dạng sắt và sắt (II) glycinat (Ferrochel®)

Các dạng sắt khác nhau có thể tìm thấy trong các sản phẩm bổ sung, bao gồm muối sắt (ví dụ sắt sulfat, sắt citrat, sắt tartrat) và sắt chelate (ví dụ sắt glycinate, aka ferrous bisglycinate chelate). Các dạng sắt có độ tan cao hơn thì có hoạt tính sinh học hơn, do đó hiệu quả hơn [19]. Khi so sánh các dạng sắt khác nhau, các nghiên cứu cho thấy hấp thu sắt từ dạng chelate lớn hơn dạng muối [20-21]. Do đó, sắt chelate (ví dụ sắt glycinate) cung cấp một nguồn sắt tốt hơn vì sinh khả dụng cao hơn; cho phép dùng một liều nhỏ hơn [22].

Trong một nghiên cứu lâm sàng với phụ nữ mang thai, người ta thấy rằng bổ sung sắt bisglycinat (Ferrochel®) độc quyền ở liều 15mg/ngày tương đương với liều sắt sulfat cao hơn (40mg/ngày) [23]. Điều này cho thấy rằng bổ sung Ferrochel® có hiệu quả hơn so với sắt sulfat [23].

Một lợi ích nữa của sắt glycinat so với dạng muối sắt là dạng chelate dịu nhẹ hơn đối với hệ tiêu hóa do đó người dùng thuốc sẽ dễ dàng tuân thủ liệu trình sử dụng thuốc hơn [24]. Trong các thử nghiệm lâm sàng, sắt sulfat có liên quan đến tỷ lệ cao gặp tác dụng phụ đường tiêu hóa, ví dụ: buồn nôn và táo bón [21, 22]. Điều này làm giảm sự tuân thủ liệu trình sử dụng thuốc của bệnh nhân và dẫn đến việc bệnh nhân ngưng bổ sung muối sắt (sắt sulfat).

Ferrochel® là một dạng sắt chelate được phát triển bởi hãng Albion có trụ sở tại Mỹ bằng công nghệ đã được cấp bằng sáng chế. Tên khoa học của Ferrochel là iron glycinate hoặc ferrous bisglycinate chelate. Albion là nhà phát minh và đi đầu thế giới trong lĩnh vực dinh dưỡng khoáng chất chelat với axít amino. Albion sản xuất các loại khoáng chất có hoạt tính sinh học rất cao và với chuyên môn của mình hãng vẫn tiếp tục cải tiến các khoáng chất dinh dưỡng cho chăm sóc sức khoẻ.

Các khoáng chất (canxi, iốt, phospho, magiê và kẽm)

Canxi

Trong suốt thời gian mang thai và cho con bú, thai nhi và trẻ nhỏ cần lượng cao canxi để hỗ trợ cơ thể nhỏ bé phát triển, đặc biệt là để đáp ứng cho sự phát triển xương. Nhu cầu canxi của thai nhi tăng lên trong tam cá nguyệt thứ ba vì xương của thai nhi ở giai đoạn này bắt đầu phát triển và cứng chắc hơn [25]. Trong thời kỳ cho con bú, sữa của người mẹ tiết ra lượng trung bình 210mg canxi/ngày khi người mẹ cho bú [26].

Canxi cần thiết cho răng, xương và cơ bắp khỏe mạnh. Canxi cũng rất quan trọng trong điều chỉnh chức năng tim, đông máu, dẫn truyền tín hiệu thần kinh và chức năng của enzyme. Điều quan trọng là bạn phải đảm bảo rằng lượng canxi đưa vào cơ thể bạn đáp ứng đầy đủ nhu cầu canxi của em bé và của chính bạn. Lượng canxi thấp có liên quan đến mật độ xương thấp và có thể dẫn đến xương yếu và dễ gãy.

Iốt

Nhu cầu iốt của bạn tăng lên trong thời gian mang thai và cho con bú để hỗ trợ sự phát triển của bé. Phụ nữ trước khi mang thai, đang mang thai và đang cho con bú được khuyến nghị bổ sung iốt 150mg/ngày [25].

Iốt cần thiết cho việc sản xuất hoóc môn tuyến giáp, điều này rất quan trọng cho sự phát triển của não bộ và hệ xương một cách đúng đắn trong suốt thai kỳ và cho con bú [25]. Hoóc môn tuyến giáp cũng có vai trò quan trọng trong kiểm soát chuyển hóa dưỡng chất và năng lượng cơ thể.

Thiếu lượng Iốt trong thời gian mang thai và cho con bú có thể gây ra những phản ứng bất lợi không thể đảo ngược được đối với em bé của bạn, bao gồm phát triển thần kinh bị thiếu hụt(ví dụ: chỉ số IQ thấp hơn trung bình) và chậm phát triển [27]. Nghiêm trọng hơn, nó có thể dẫn đến đần độn, một bệnh đặc trưng bởi sự suy giảm về tinh thần, phát triển còi cọc, chậm trưởng thành sinh dục và những bất thường khác [27].

Phốt pho

Phốt pho chiếm khoảng 0,5% trong cơ thể trẻ sơ sinh, và 0,65-1,1% cơ thể người trưởng thành [28]. Phốt pho có mặt trong mỗi tế bào cơ thể và có một vai trò quan trọng trong sức khoẻ và sự phát triển xương. Phốt pho của cơ thể tập trung 85% trong xương [29, 30] và phần còn lại phân bố trong mô mềm [30].

Khi cho con bú sữa mẹ, điều quan trọng phải biết là phốt pho từ sữa mẹ có sinh khả dụng cao nhất so với sữa bò và các công thức [28]. Bạn cần đảm bảo rằng sữa của bạn là tối ưu để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của bé. Khi cơ thể thiếu phốt pho có thể dẫn đến yếu cơ, đau xương.

Magiê

Lúc mới sinh, em bé có khoảng 760mg magiê, khi trưởng thành có khoảng 25g [31]. Trong thời gian cho con bú, trẻ hấp thu khoảng 50-90% magiê từ sữa mẹ [31].

Magiê là dưỡng chất cần thiết cho các hoạt động chức năng của nhiều hệ thống khác nhau trong cơ thể bao gồm hệ thần kinh cơ (thần kinh và cơ bao gồm cả cơ tim) [32, 33]. Magiê cũng rất quan trọng đối với sức khỏe của xương và với hơn một nửa magiê của cơ thể được tập trung trong xương.

Các dấu hiệu sớm của sự thiếu hụt magiê bao gồm buồn nôn, yếu cơ và hôn mê. Người mẹ thiếu magiê có thể làm tăng nguy cơ sinh non và trẻ sơ sinh nhẹ cân, chậm phát triển và rối loạn thần kinh cơ [34].

Kẽm

Thai nhi và trẻ nhỏ có nhu cầu kẽm cao và là một dưỡng chất cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển bình thường của thai nhi và trẻ nhỏ [35]. Ngoài ra kẽm còn có vai trò quan trọng trong nhiều hoạt động của cơ thể bao gồm chức năng miễn dịch, tổng hợp DNA và protein, làm lành vết thương và phân chia tế bào.

Điều quan trọng là bạn duy trì đủ lượng kẽm hàng ngày để hỗ trợ sự phát triển của bé. Thiếu kẽm nhẹ có thể làm giảm sự phát triển và chức năng miễn dịch của em bé cũng như làm ảnh hưởng thai nhi [35]. Các triệu chứng khác của việc thiếu kẽm là rụng tóc, tiêu chảy, tổn thương mắt và da.

Các Vitamin (C, D3, E & Beta-caroten)

Vitamin C

Vitamin C (còn gọi là axít ascorbic) là một chất chống oxy hoá giúp bảo vệ tế bào khỏi bị tổn thương do các gốc tự do gây ra. Ngoài ra, vitamin C cũng rất quan trọng đối với nhiều quá trình chuyển hóa bao gồm sự hình thành collagen (giúp tăng cường sức khỏe da, mạch máu và xương), hấp thu sắt và chức năng miễn dịch [36]. Nếu lượng vitamin C của bạn đã đủ, con bạn có thể lấy đủ vitamin C từ sữa mẹ [36].

Thiếu vitamin C dẫn đến bệnh scobut, các triệu chứng bao gồm mệt mỏi, chán ăn, đau khớp và cơ bắp [37]. Trẻ sơ sinh mắc bệnh scobut có thể không phát triển xương dài ở tay và chân [37].

Vitamin D3

Vitamin D là cần thiết cho phát triển xương, răng và cơ khỏe mạnh. Vai trò chính của vitamin D là duy trì và kiểm soát lượng canxi trong máu [38]. Thiếu vitamin D có thể gây khoáng hóa xương không đầy đủ, dẫn đến còi xương (mềm xương và biến dạng xương) ở trẻ em, và đau xương và cơ ở người lớn. Trong thời gian cho con bú, lượng vitamin D cung cấp cho em bé phụ thuộc vào sữa mẹ. Nếu sữa mẹ ít vitamin D, em bé của bạn có nguy cơ thiếu vitamin D.

Vitamin E

Điều quan trọng là phải duy trì lượng Vitamin E trong suốt thai kỳ và tăng trong thời gian cho con bú. Vitamin E là chất dinh dưỡng tan trong dầu, có hoạt tính chống oxy hoá. Vai trò chính của nó là bảo vệ các axít béo đa không bão hòa (PUFA) khỏi tổn thương gây ra bởi gốc tự do [40] Vitamin E cũng tham gia vào chức năng miễn dịch, tín hiệu tế bào, điều hoà biểu hiện gen và các quá trình chuyển hóa khác [41].

Beta-caroten

Trong thời gian mang thai và cho con bú, nhu cầu vitamin A của bạn tăng lên để hỗ trợ sự phát triển của bé, sự duy trì mô, và sự chuyển hóa của chính bạn. Bạn cần phải cẩn thận để không vượt quá khẩu phần được khuyến nghị vì lượng vitamin A dư thừa có thể gây hại cho sự phát triển của em bé.

Beta-carotene là tiền thân của vitamin A, có nghĩa là cơ thể sử dụng nó để tạo ra vitamin A. Vitamin A có nhiều vai trò quan trọng trong cơ thể; Nó giúp duy trì bình thường khả năng sinh sản, chức năng thị giác và miễn dịch [42].

Trong thai kỳ, axít retinoic (chất chuyển hóa của vitamin A) rất quan trọng trong sự phát triển của phôi thai, đặc biệt là tủy sống, đốt sống, chân tay, tim, mắt và tai [43]. Trong mắt, axít retinoic duy trì sự biệt hóa của giác mạc và kết mạc để ngăn ngừa bệnh khô mắt – một bệnh về mắt tiến triển đặc trưng bởi sự khô bất thường và không có khả năng tiết nước mắt. Ngoài ra, mắt cần dạng vitamin A này ở võng mạc để chuyển đổi ánh sáng thành các tín hiệu thần kinh cho chức năng thị giác [44].

Thiếu vitamin A trong thời gian mang thai và cho con bú có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh cho mẹ và trẻ sơ sinh, trẻ chậm tăng trưởng và phát triển, bệnh khô mắt ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, các bệnh khác ở trẻ bị sinh non (ví dụ bệnh về mắt, phổi, tiêu hóa) [42].

Các vitamin nhóm B (B1, B2, B3, B5, B6 & B12)

Trong thời gian mang thai và cho con bú, nhu cầu vitamin B của bạn tăng lên để hỗ trợ sự tăng trưởng của mẹ và thai nhi, và tiêu thụ năng lượng cao hơn (ví dụ: năng lượng cần thiết để sản xuất sữa mẹ). Vitamin B là một loại vitamin tan trong nước cần thiết cho quá trình chuyển hóa bao gồm: sản xuất năng lượng, tham gia vào chức năng hồng cầu và tế bào [45]. Vitamin B cần được bổ sung thường xuyên vì cơ thể không dự trữ được.

Vitamin B1 (Thiamin)

Vitamin B1 giúp chuyển thực phẩm bạn ăn thành năng lượng cần thiết (nghĩa là chuyển hóa năng lượng), do đó nó có vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng, phát triển và chức năng của tế bào [45]. Trong thời gian cho con bú, cơ thể bạn cần nhiều vitamin B1 hơn vì cơ thể của bạn có nhu cầu về năng lượng cao hơn khi sản xuất sữa mẹ [46]. Ngoài ra, một lượng nhỏ vitamin B1 được chuyển vào sữa mẹ để cho con của bạn [46].

Thiếu vitamin B1 có thể xảy ra nếu chế độ ăn chủ yếu là gạo trắng hoặc nghèo dinh dưỡng. Các triệu chứng có thể bao gồm lú lẫn, mệt mỏi và yếu cơ [45].

Vitamin B2 (Riboflavin)

Lượng Vitamin B2 ăn vào trong thai kỳ có mối quan hệ tích cực với cân nặng và chiều dài của trẻ sơ sinh [47]. Ở phụ nữ có dinh dưỡng tốt, nồng độ vitamin B2 trong sữa dao động từ 180-800mcg/L [48].

Vitamin B2 là thành phần thiết yếu của hai co-enzym chính (flavin mononucleotide, flavin adenine dinucleotide). Hơn 90% vitamin B2 trong bữa ăn được tìm thấy trong 2 coenzyme này. Những coenzyme này có vai trò quan trọng trong việc sản xuất năng lượng, chức năng tế bào và sự trao đổi chất béo [49].

Vitamin B2 nhạy cảm với ánh sáng, khi tiếp xúc với ánh sáng cực tím hoặc ánh sáng nhìn thấy, nó có thể nhanh chóng bị mất hoạt tính. Để bảo vệ vitamin B2 khỏi ánh sáng, sữa thường không được chứa trong bình thủy tinh [50].

Thiếu vitamin B2 có thể có những tác động bất lợi đối với sức khoẻ của cả mẹ và bé [51]. Thiếu hụt trong thai kỳ có thể làm tăng nguy cơ tiền sản giật ở mẹ (tăng huyết áp trong thai kỳ), và các dị tật bẩm sinh ở trẻ sơ sinh (ví dụ dị tật tim bẩm sinh) [52, 53].

Vitamin B3 (Niacin)

Phụ nữ mang thai và cho con bú có nhu cầu vitamin B3 cao hơn để đáp ứng cho sự tăng nhu cầu năng lượng và tăng trưởng. Vitamin B3 là cần thiết trong việc chuyển đổi carbohydrat và chất béo thành năng lượng. Nó cũng giúp duy trì làn da khỏe mạnh, và hỗ trợ hệ thống thần kinh và tiêu hóa.

Thiếu vitamin B3, có thể gây ra bệnh pellagra – đặc trưng bởi viêm da, và nặng hơn là tiêu chảy [45].

Vitamin B5 (axít Pantothenic)

Nhu cầu về Vitamin B5 tăng lên trong thai kỳ và cho con bú. Trong thời gian cho con bú, một lượng lớn vitamin B5 được tiết ra trong sữa mẹ (1,7mg/ngày) [54]. Vitamin B5 có nhiều vai trò, bao gồm chuyển hóa carbohydrat, protein và chất béo, và tham gia sản xuất hồng cầu [45].

Thiếu vitamin B5 là không phổ biến. Các triệu chứng thiếu hụt bao gồm khó chịu, bồn chồn, mệt mỏi, buồn nôn, nôn mửa và táo bón [45].

Vitamin B6 (Pyridoxine)

Vitamin B6 rất quan trọng cho sự phát triển của não trong suốt thai kỳ và sau khi sinh [55]. Nó cũng cần thiết cho sự hình thành của các tế bào hồng cầu, chức năng miễn dịch và hoạt động của hoóc môn steroid. Vitamin B6 tham gia vào hơn 100 phản ứng enzym, chủ yếu liên quan đến chuyển hóa protein [55].

Thiếu vitamin B6 có liên quan đến mất ngủ, trầm cảm, thiếu máu, kích thích, co giật cơ và viêm da. Ở trẻ sơ sinh, thiếu B6 có thể gây khó chịu và thính giác bất thường [56].

Vitamin B12 (Cyanocobalamin)

Vitamin B12 là một chất dinh dưỡng quan trọng cho sự phát triển của em bé. Vitamin B12 qua nhau thai trong thai kỳ, và nó có trong sữa mẹ trong thời gian cho con bú [57]. Vitamin B12 là cần thiết cho sự hình thành hồng cầu, chức năng thần kinh (ví dụ duy trì myelin xung quanh các tế bào thần kinh), tổng hợp DNA và chuyển hóa các axít béo để sản sinh ra năng lượng [45, 58]. Ngoài ra, Vitamin B12 và axítfolic cũng phụ thuộc vào chất khác để hoạt động một cách đúng đắn.

Các triệu chứng thiếu vitamin B12 bao gồm mệt mỏi, chán ăn, giảm cân, các vấn đề về tinh thần và giảm trí nhớ. Nếu thiếu vitamin B12 trong thời gian cho con bú, sữa mẹ sẽ ít vitamin B12, điều này có thể làm bé phát triển thiếu vitamin B12 trong vòng vài tháng sau khi sinh [59]. Nếu con bạn không được điều trị, nó có thể gây tổn thương thần kinh nghiêm trọng và vĩnh viễn [57].

Tài liệu tham khảo

  1. https://www.betterhealth.vic.gov.au/ Accessed 31/5/17
  2. Jaclyn M Coletta, MD, Stacey J Bell, DSc, RD, and Ashley S Roman, MD, MPH. Omega-3 Fatty Acids and Pregnancy. Rev Obstet Gynecol. 2010 Fall; 3(4): 163–171.
  3. Helland, I.B., et al., Similar effects on infants of n-3 and n-6 fatty acids supplementation to pregnant and lactating women. Pediatrics, 2001. 108(5): p. E82.
  4. Helland, I.B., et al., Maternal supplementation with very-long-chain n-3 fatty acids during pregnancy and lactation augments children’s IQ at 4 years of age. Pediatrics, 2003. 111(1): p. e39-44.
  5. Gould, J.F., L.G. Smithers, and M. Makrides, The effect of maternal omega-3 (n-3) LCPUFA supplementation during pregnancy on early childhood cognitive and visual development: a systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials. Am J Clin Nutr, 2013. 97(3): p. 531-44.
  6. Jensen, C.L., et al., Effects of maternal docosahexaenoic axítintake on visual function and neurodevelopment in breastfed term infants. Am J Clin Nutr, 2005. 82(1): p. 125-32.
  7. Jensen, C.L., et al., Effects of early maternal docosahexaenoic axítintake on neuropsychological status and visual acuity at five years of age of breast-fed term infants. J Pediatr, 2010. 157(6): p. 900-5.
  8. Rombaldi Bernardi, J., et al., Fetal and neonatal levels of omega-3: effects on neurodevelopment, nutrition, and growth. ScientificWorldJournal, 2012. 2012: p. 202473.
  9. Yuhas, R., K. Pramuk, and E.L. Lien, Human milk fatty axítcomposition from nine countries varies most in DHA. Lipids, 2006. 41(9): p. 851-8.
  10. Makrides M, Duley L, Olsen SF. Marine oil, and other prostaglandin precursor, supplementation for pregnancy uncomplicated by pre-eclampsia or intrauterine growth restriction. Cochrane Database of Systematic Reviews. 2006; Issue 3, Art. No.: CD003402.
  11. http://www.foodstandards.gov.au/consumer/generalissues/pregnancy/folic/Pages/default.aspx Accessed 1/6/17
  12. https://www.betterhealth.vic.gov.au/health/healthyliving/folate-for-pregnant-women Accessed 1/6/17
  13. http://www.aihw.gov.au/WorkArea/DownloadAsset.aspx?id=6442458964 Accessed 1/6/17
  14. https://www.betterhealth.vic.gov.au/health/healthyliving/vitamin-b Accessed 1/6/17
  15. Food and Nutrition Board, Institute of Medicine. Folate. Dietary Reference Intakes: Thiamin, Riboflavin, Niacin, Vitamin B6, Folate, Vitamin B12, Pantothenic Acid, Biotin, and Choline. Washington, D.C.: National Academy Press; 1998:196-305.
  16. http://lpi.oregonstate.edu/mic/vitamins/folate#references Accessed 1/7/16
  17. https://www.nrv.gov.au/nutrients/iron Accessed 1/7/16
  18. https://www.betterhealth.vic.gov.au/health/healthyliving/nutrition-womens-extra-needs Accessed 1/7/16
  19. Murray-Kolbe LE, Beard J. Iron. In: Coates PM, Betz JM, Blackman MR, et al., eds. Encyclopedia of Dietary Supplements. 2nd ed. London and New York: Informa Healthcare; 2010:432-8.
  20. Brise, H., Hallber, L. Iron absorption studies II. Acta Med Scandinav, 1962;
  21. Ashmead, H. D., et al. Intestinal absorption metal long and chelates. Springfield, IL, Charles C Thomas, 1985, p. 171-232.
  22. Ashmead HD. The absorption and metabolism of iron amino axítchelate. Arch Latinoam Nutr.2001 Mar;51(1 Suppl 1):13-21.
  23. Szarfarc, S.C., et al., Relative effectiveness of iron bis-glycinate chelate (Ferrochel) and ferrous sulfate in the control of iron deficiency in pregnant women. Arch Latinoam Nutr, 2001. 51(1 Suppl 1): p. 42-7.
  24. Melamed, N., Ben-Haroush, A., Kaplan, B. and Yogev, Y. Iron supplementation in pregnancy – does the preparation matter? Arch Gynecol Obstet (2007) 276:601-604.
  25. https://www.betterhealth.vic.gov.au/health/healthyliving/pregnancy-and-diet Accessed 5/6/17
  26. https://www.nrv.gov.au/nutrients/calcium Accessed 5/6/17
  27. https://ods.od.nih.gov/factsheets/Iodine-HealthProfessional/ Accessed 5/6/17
  28. Dietary Reference Intakes for Calcium, Phốt phorus, Magnesium, Vitamin D, and Fluoride. Institute of Medicine (US) Standing Committee on the Scientific Evaluation of Dietary Reference Intakes. Washington (DC): National Academies Press (US); 1997.
  29. https://medlineplus.gov/ency/article/002424.htm Accessed 5/6/17
  30. Diem K. Documenta Geigy. Ardsley, NY: Geigy Pharmaceuticals, 1970.
  31. Forbes GB. Human body composition: growth, aging, nutrition and activity. New York: Springer-Verlag, 1987.
  32. http://www.abs.gov.au/ausstats/abs@.nsf/Lookup/by%20Subject/4364.0.55.008~2011-12~Main%20Features~Magnesium~406 Accessed 5/6/17
  33. Heaton FW. The kidney and magnesium homeostasis. Ann NY Acad Sci 1976;162:775-85.
  34. Cadell, J.L., Studies in protein-calorie malnutrition. II. A doubleblind clinical trial to assess magnesium therapy. N Engl J Med, 1967. 276(10): p. 535-40.
  35. https://ods.od.nih.gov/factsheets/Zinc-HealthProfessional/ Accessed 5/6/17
  36. https://ods.od.nih.gov/factsheets/VitaminC-HealthProfessional/ Accessed 5/6/17
  37. https://www.betterhealth.vic.gov.au/health/healthyliving/scurvy Accessed 5/6/17
  38. https://www.betterhealth.vic.gov.au/health/healthyliving/vitamin-d Accessed 5/6/17
  39. https://www.nrv.gov.au/nutrients/vitamin-e Accessed 6/6/17
  40. https://ods.od.nih.gov/factsheets/VitaminE-HealthProfessional/ Accessed 6/6/17
  41. Traber MG. Vitamin E. In: Shils ME, Shike M, Ross AC, Caballero B, Cousins R, eds. Modern Nutrition in Health and Disease. 10th ed. Baltimore, MD: Lippincott Williams & Wilkins, 2006;396-411.
  42. https://ods.od.nih.gov/factsheets/VitaminA-Consumer/# Accessed 6/6/17
  43. Morris-Kay GM, Sokolova N. Embryonic development and pattern formation. FASEB J 1996;10:961-8.
  44. https://www.nrv.gov.au/nutrients/vitamin-a Accessed 6/6/17
  45. https://www.betterhealth.vic.gov.au/health/healthyliving/vitamin-b Accessed 6/7/18
  46. https://www.nrv.gov.au/nutrients/thiamin Accessed 6/6/17
  47. Badart-Smook A, van Houwelingen AC, Al MD, Kester AD, Hornstra G. Fetal growth is associated positively with maternal intake of riboflavin and negatively with maternal intake of linoleic acid. J Am Diet Assoc 1997;97:867-70. [PubMed abstract]
  48. Allen LH. B Vitamins in Breast Milk: Relative importance of maternal status and intake, and effects on infant status and function. Adv Nutr 2012;3:362-9. [PubMed abstract]
  49. https://ods.od.nih.gov/factsheets/Riboflavin-HealthProfessional/ Accessed 6/6/17
  50. Institute of Medicine. Food and Nutrition Board. Dietary Reference Intakes: Thiamin, Riboflavin, Niacin, Vitamin B6, Folate, Vitamin B12, Pantothenic Acid, Biotin, and Choline. Washington, DC: National Academy Press; 1998.
  51. Said HM, Ross AC. Riboflavin. In: Ross AC, Caballero B, Cousins RJ, Tucker KL, Ziegler TR, eds. Modern Nutrition in Health and Disease. 11th ed. Baltimore, MD: Lippincott Williams & Wilkins; 2014:325-30.
  52. Wacker J, Fruhauf J, Schulz M, Chiwora FM, Volz J, Becker K. Riboflavin deficiency and preeclampsia. Obstet Gynecol 2000;96:38-44. [PubMed abstract]
  53. Smedts HP, Rakhshandehroo M, Verkleij-Hagoort AC, de Vries JH, Ottenkamp J, Steegers EA, et al. Maternal intake of fat, riboflavin and nicotinamide and the risk of having offspring with congenital heart defects. Eur J Nutr 2008;47:357-65. [PubMed abstract]
  54. https://www.nrv.gov.au/nutrients/pantothenic-acid Accessed 6/6/17
  55. https://ods.od.nih.gov/factsheets/VitaminB6-Consumer/ Accessed 6/6/17
  56. McCormick D. Vitamin B6. In: Bowman B, Russell R, eds. Present Knowledge in Nutrition. 9th ed. Washington, DC: International Life Sciences Institute; 2006.
  57. https://ods.od.nih.gov/factsheets/VitaminB12-HealthProfessional/ Accessed 6/6/17

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *